Luật Kế Toán năm 2015 xây dựng theo hướng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế

          Luật Kế toán năm 2003 đã được Quốc hội khóa XI thông qua, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 và các văn bản hướng dẫn đã tạo điều kiện cho người làm kế toán và tổ chức công tác kế toán làm tốt công việc của mình, đồng thời cũng là công cụ để Nhà nước thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát, góp phần tích cực trong việc thực hiện công tác kiểm toán, thực hiện nghĩa vụ thu nộp ngân sách Nhà nước.
Mặt khác, sau hơn 10 năm thực hiện Luật Kế toán năm 2003 đã góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; các quy định và chế độ kế toán được bổ sung, sửa đổi phù hợp với hội nhập quốc tế, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp quyết định tham gia đầu tư, phát triển thị trường tài chính cũng như dịch vụ về kế toán, bên cạnh đó Luật Kế toán năm 2003 cũng dần bộc lộ không ít những tồn tại, hạn chế nhất định.
Theo đó, Luật Kế toánnăm 2015 – Luật số 88/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017, được xây dựng theo hướng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, phù hợp với nền kinh tế thị trường đang dần hoàn thiện của Việt Nam để khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Kế toán năm 2003, như:
1. Về nguyên tắc kế toán: Để khắc phục quy định hạch toán theo giá gốc, không phản ánh được tình hình biến động tài sản và nợ phải trả tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế và thông lệ phổ biến trên toàn thế giới, việc hạch toán được thực hiện theo giá trị hợp lý (giá thị trường tại thời điểm đánh giá). Do đó, Luật kế toán 2015 vẫn áp dụng nguyên tắc giá gốc, nhưng có bổ sung thêm được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ lập báo cáo tài chính. Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải bảo đảm phản ánh đúng bản chất của giao dịch hơn là hình thức, tên gọi của giao dịch. Điều này được cụ thể trong Điều 6 Luật kế toán 2015.

2. Về vai trò kiểm tra, kiểm soát thông qua công cụ kế toán: Luật kế toán 2015 đã thể hiện rõ hơn vai trò qua công tác kế toán như các hành vi bị cấm, quy định chứng từ kế toán điện tử; về kiểm tra kế toán, xác định rõ trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật, của đơn vị kế toán..., nhằm tạo ra cơ chế hạch toán rõ ràng, trung thực, công khai và minh bạch.
a) Những hành vi bị cấm: Luật Kế toán năm 2015 kế thừa 09 hành vi bị cấm được quy định tại Điều 14 Luật Kế toán 2003 và bổ sung thêm 06 hành vi bị cấm nhằm bảo đảm bao quát được tất cả các hành vi gian lận, sai phạm trong lĩnh vực kế toán, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý vi phạm.
Theo Điều 13 Luật kế toán 2015, các hành vi được bổ sung như sau: Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ kế toán viên, Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán dưới mọi hình thứcLập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên hoặc cung cấp, công bố các báo cáo tài chính có số liệu không đồng nhất trong cùng một kỳ kế toán; Kinh doanh dịch vụ kế toán khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc hành nghề dịch vụ kế toán khi không bảo đảm điều kiện quy định của Luật này; Thuê cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề, điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán cung cấp dịch vụ kế toán cho đơn vị mìnhKế toán viên hành nghề và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán thông đồng, móc nối với khách hàng để cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật.
b) Chứng từ kế toán: Công tác hiện đại hóa công nghệ thông tin trong lĩnh vực kế toán cũng có những nội dung cần chỉnh sửa. Khi đã ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại thì việc in, lưu giữ chứng từ điện tử, in và lưu giữ sổ kế toán cũng phải quy định phù hợp, khắc phục phương thức hạch toán kế toán thủ công như trước đây.
Luật kế toán 2015 có quy định cụ thể về chứng từ điện tử: Chứng từ điện tử phải bảo đảm tính bảo mật và bảo toàn dữ liệu, thông tin trong quá trình sử dụng và lưu trữ; phải được quản lý, kiểm tra chống các hình thức lợi dụng khai thác, xâm nhập, sao chép, đánh cắp hoặc sử dụng chứng từ điện tử không đúng quy định. Chứng từ điện tử được quản lý như tài liệu kế toán ở dạng nguyên bản mà nó được tạo ra, gửi đi hoặc nhận nhưng phải có đủ thiết bị phù hợp để sử dụng. Khi chứng từ bằng giấy được chuyển thành chứng từ điện tử để giao dịch, thanh toán hoặc ngược lại thì chứng từ điện tử có giá trị để thực hiện nghiệp vụ kinh tế, tài chính đó, chứng từ bằng giấy chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi và kiểm tra, không có hiệu lực để giao dịch, thanh toán.
Nếu chứng từ điện tử được lưu trữ trên các phương tiện điện tử thì phải bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu và phải bảo đảm tra cứu được trong thời hạn lưu trữ. Cụ thể được quy định tại các điều 16, 17, 18, 19, 20 và 21 của Luật Kế toán 2015.
c) Kiểm tra kế toán: Luật kế toán 2015 quy định cụ thể các cơ quan có thẩm quyền quyết định kiểm tra kế toán tại Điều 34, trong đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định kiểm tra kế toán đối với các đơn vị kế toán trên địa bàn do mình quản lý.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ. Xã hội phát triển, kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ không chỉ nằm trong phạm vi hoạt động của đơn vị mà nó vượt ra khỏi phạm vi nội bộ đơn vị nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng bên ngoài. Luật Kế toán năm 2015 đã chỉ rõ trách nhiệm của đơn vị kế toán phải xây dựng, thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả, hiệu lực và tin cậy, tổ chức kiểm toán nội bộ với những nhiệm vụ được quy định cụ thể tại Điều 39.
3. Về phát triển nghề nghiệp dịch vụ kế toán: trong thời gian qua đã có nhiều doanh nghiệp được thành lập để cung cấp dịch vụ kế toán; các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán và phương thức tổ chức cần được quy định cụ thể, rõ ràng. Để phát triển ngành nghề này và nâng cao chất lượng dịch vụ, Luật Kế toán năm 2015 đã điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.
a) Hành nghề dịch vụ kế toán: Luật kế toán quy định cụ thể điều kiện hành nghề, doanh nghiệp hành nghề kế toán, đồng thời quy định cụ thể việc tư vấn kế toán cũng được xem là cung cấp dịch vụ kế toán. Vì vậy, buộc phải đăng ký hành nghề theo quy định. Quy định mới về việc cung cấp dịch vụ kế toán, đó là cung cấp dịch vụ qua biên giới.
b) Điều kiện và hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán: Luật quy định cụ thể hồ sơ, cũng như điều kiện để một đơn vị được cung cấp dịch vụ kế toán. Đồng thời cũng quy định những doanh nghiệp không được cung cấp dịch vụ kế toán. Cụ thể được quy định tại các Điều 60, 61, 62, 63, 68 Luật Kế toán 2015.
Cù Duy Dương (Thanh Tra Sở)

Tin tức khác cùng chuyên mục